RSS Feed

Author Archives: trasuasonlu

Mít

Posted on

Mít là loại cây to, cao khoảng 8-15m, có tên khoa học là Artocarpus integrifolia Linn, thuộc họ dâu tằm (Moraceae). Cây mít được trồng phổ biến khắp nước ta, rất gần gũi với người dân nông thôn. Mít có nhiều loại như mít mật, mít dai, mít tố nữ (đặc sản miền Nam), ngoài giá trị dinh dưỡng, nhiều bộ phận của cây mít còn là vị thuốc.
Giá trị dinh dưỡng của mít

Quả mít to, dài chừng 30-60cm, đường kính 18-30cm, ngoài vỏ có gai. Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả mít hầu như ăn được. Múi mít chín ăn rất thơm ngon. Xơ mít có thể dùng muối chua như muối dưa (gọi là nhút), đã từng đi vào ca dao, tục ngữ: “Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn”. Các quả mít non còn dùng như một loại rau củ để nấu canh, kho cá, trộn gỏi…

Hạt mít đem luộc, rang, nướng hay thổi với cơm ăn. Hạt mít cũng có giá trị lương thực như các loại hạt và củ khác, được nhân dân dùng chống đói trong những ngày giáp hạt. Hạt mít có thể phơi khô làm lương thực dự trữ, chứa tới 70% tinh bột, 5,2% protein, 0,62% lipid, 1,4% các chất khoáng. Nói chung protein và lipid của hạt mít khô tuy chưa bằng gạo, nhưng hơn hẳn khoai, sắn khô. Trong nhân dân thường cho rằng hạt mít có tác dụng bổ trung ích khí gây trung tiện, thông tiểu tiện.

Múi mít chín vàng óng đẹp mắt, ăn ngon ngọt, đặc biệt có hương thơm rất đặc trưng, được coi là thức ăn bổ dưỡng và có tác dụng long đờm. Về giá trị dinh dưỡng, trong thịt múi mít chín có protein 0,6-1,5% (tùy loại mít), glucid 11-14% (bao gồm nhiều đường đơn như fructose, glucose, cơ thể dễ hấp thụ), caroten, vitamin C, B2… và các chất khoáng như sắt, canxi, phospho…

Một số món bổ dưỡng từ mít

Mít lên men rượu: Múi mít chín 1kg, đường trắng 300g, men rượu (bánh men thuốc Bắc) 2 bánh. Cách làm: Lựa múi mít vừa chín tới, gỡ bỏ hạt, phần múi đem trộn với 150g đường. Men rượu đem tán nhỏ, rây mịn. Cho mít vào bình thủy tinh rộng miệng, cứ một lượt mít rắc một lượt men cho đến hết mít.

Số men còn lại rắc trên cùng, đậy kín nắp. Khoảng 4-5 ngày sau, mít lên men rượu bốc mùi thơm. Lấy 2 lít nước lọc hòa với 150g đường còn lại đổ vào, đậy kín nắp để lên men tiếp. Khoảng 9-10 ngày sau, thấy nước lên men rượu trong bình lắng trong là được. Chắt nước ra, lọc qua phễu có lót bông cho trong, đóng vào chai, nút thật chặt (vì lượng đường trong rượu còn lại vẫn tiếp tục lên men, dễ làm bật nút). Rượu mít lên men có màu vàng nhạt, có gas và dậy mùi thơm của hương mít. Rượu mít khá bổ, uống lâu say vì mít có tính giải rượu, dùng khai vị trong bữa ăn như bia hay rượu vang.

Mít nấu đường: Mít chín 30 múi to, đường trắng 300g, chanh tươi 1 quả. Chọn mít dai vừa chín, múi to thịt dày, loại bỏ hạt, thái miếng vuông. Cho đường vào soong cùng với 300ml nước, đun sôi, cho mít vào đảo đều. Rút bớt lửa chỉ để sôi lăn tăn, khi mít chín trong, nước đường hơi sánh lại là được. Khi mít nguội, đem ướp lạnh. Lúc ăn, lấy mít vào cốc, vắt chanh vào nước đường còn lại, quấy đều, tưới lên mít, ăn mát lạnh, dùng tráng miệng sau bữa ăn. Ngoài ra, mít còn giúp giải rượu bia.

Mít non xào thịt: Quả mít non gọt vỏ gai, thái lát, đem xào với thịt lợn nạc, nêm thêm gia vị, dùng ăn với cơm. Món này, theo Đông y có tác dụng bổ tỳ, hòa can, tăng và thông sữa, thích hợp cho phụ nữ sau sinh bị ốm yếu, ăn kém, ít sữa.

Những vị thuốc từ mít

Vị thuốc từ lá mít: Lá mít dày, hình bầu dục, dài 7-15cm. Khi dùng làm thuốc, người ta thường dùng lá tươi.

Làm thuốc lợi sữa: Sản phụ sau khi sinh nếu ít sữa, dùng lá mít tươi (30-40g/ngày) nấu nước uống giúp tiết ra sữa hoặc tăng tiết sữa. Cũng có thể dùng cụm hoa đực (dân gian thường gọi là dái mít), hay quả non sắc uống để tăng tiết sữa.

Chữa tưa lưỡi ở trẻ em: Phơi lá mít vàng cho thật khô rồi đốt cháy thành than, trộn với mật ong, bôi vào chỗ tưa lưỡi 2-3 lần/ngày, tối 1 lần.

Chữa chứng trẻ em tiểu ra cặn trắng: Lấy 20-30g lá già của cây mít mật, thái nhỏ, sao vàng, nấu nước uống.

Chữa hen suyễn: Lấy lá mít + lá mía + than tre (3 thứ bằng nhau) sắc uống.

Chữa mụn nhọt, lở loét: Lấy lá mít tươi giã nát, đắp lên mụn nhọt đang sưng, sẽ làm giảm sưng đau. Hoặc dùng lá mít khô nấu cô đặc thành cao, bôi lên vết lở loét sẽ mau khỏi
+ Vị thuốc từ nhựa mít: Vỏ cây mít có nhiều nhựa, cũng thường được dùng làm thuốc chữa nhọt vỡ mủ. Hoặc có thể dùng nhựa mít trộn với giấm, bôi lên chỗ mụn nhọt sưng tấy.

+ Vị thuốc từ gỗ mít: Gỗ mít tươi đem mài lên miếng đá nhám, hoặc chỗ nhám của trôn bát, cho thêm ít nước (nước sẽ vẩn đục do chất gỗ và nhựa mít), ngày uống từ 6-10g, dùng làm thuốc an thần, chữa huyết áp cao hay những trường hợp co quắp. Hoặc dùng khoảng 20g gỗ phơi khô (hay vỏ thân gỗ), chẻ nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống một lần trong ngày, có tác dụng an thần.

Theo tạp chí “Science et vie” (1/1993), một nhóm nhà nghiên cứu ở Montpellier (Pháp) đã tìm thấy trong quả mít ở một số nước nhiệt đới có một chất tự nhiên mà họ đặt tên là Jacaline, có khả năng bảo vệ tế bào bạch huyết cầu của hệ thống miễn dịch chống lại virus. Công trình này đã được công bố và vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm.

BS. VŨ HƯỚNG VĂN (Sức khoẻ Đời sống)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

Advertisements

LÁ ỔI

Posted on

Chất chiết xuất từ lá ổi có thể trị chứng vàng da

Từ lâu người Việt ta đã biết ăn đọt ổi trị chứng tiêu chảy. Còn nay, các nhà khoa học thuộc Đại học Y Dược Krupanidhi (Ấn Độ) phát hiện ra rằng, chất bột chiết xuất từ lá ổi có thể bảo vệ gan khỏi các tổn hại, từ đó mở ra triển vọng tìm ra liệu pháp rẻ tiền và hiệu quả giúp chữa bệnh vàng da.

Thử nghiệm trên loài chuột cho thấy, những con chuột được cho ăn chất bột chiết xuất từ lá ổi đã tránh được nguy cơ tổn thương ở gan do hóa chất gây ra, trong khi những con chuột không dùng chất bột thì gan bị hư hại nặng. Giới chuyên gia tin rằng các chất chống oxy hóa có trong lá ổi đã phát huy công dụng ngăn ngừa bệnh. Trước đó, một số người dân Ấn Độ cho biết, nước sắc từ lá ổi có thể chữa chứng vàng da trong 3 ngày. (New Kerala)

H.Y

Những bài thuốc quý từ “Cây ổi sau nhà”
Lương y VÕ HÀ

Chống mất nước, giữ ấm người và bảo vệ khí hoá của Tỳ Vị là những yêu cầu cơ bản của việc chữa tiêu chảy cấp. Nước sắc búp ổi và uống nước cháo gạo lức rang có thể đáp ứng tốt quá trình nầy.

Ổi là một loại cây ăn quả quen thuộc. Hình ảnh “Cây ổi sau nhà” đã trở thành một biểu tượng đặc trưng cho miền quê Việt Nam. Cây ổi không chỉ che mát, tạo thêm nét đa dạng cho vườn cây ăn quả của gia đình mà còn là một nguồn dược liệu phong phú cho nhiều trường hợp cấp cứu khác nhau.

Mô tả.
Cây ổi còn được gọi là phan thạch lựu, tên khoa học Psidium guyjava L., thuộc họ Sim Myrtaceae. Ổi là mộ loại cây nhỡ, cao từ 3 đến 6 mét. Cành nhỏ có cạnh vuông. Lá mọc đối, hình bầu dục, có cuống ngắn, phiến lá có lông mịn ở mặt dưới. Hoa có màu trắng, mọc ra từ kẻ lá. Quả mọng, có phần vỏ quả dày ở phần ngoài. Ổi có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ, lan sang châu Á, châu Phi. Hiện nay, ở nước ta có nhiều loại ổi. Ổi mọc hoang ở khắp nơi từ vùng đồng bằng đến đồi núi. Ổi cũng thường được trồng để ăn quả.

Dược tính.
Nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của ổi cho biết quả ổi có hàm lượng các sinh tố A, C, acid béo omega 3, omega 6 và nhiều chất xơ[i]. Ổi là một trong những loại rau quả có tỷ lệ sinh tố C rất cao, mỗi 100g có thể có đến 486mg Sinh tố C[ii]. Sinh tố C tập trung cao nhất ở phần vỏ ngoài, càng gần lớp vỏ ngoài, lượng sinh tố càng cao. Do đó, khi ăn ổi, nên rửa sạch và ăn cả vỏ. Quả ổi là một nguồn thực phẩm ít calori nhưng giàu chất dinh dưỡng và có nhiều chất chống oxy hoá thuộc 2 nhóm carotenoids và polyphenols. Theo những nghiên cứu khoa học về những chất chống oxy hoá[iii], vị chua và chát trong nhiều loại rau quả, bao gồm lá ổi, quả ổi là do độ đậm đặc của những loại tanin có tính chống oxy hoá gây ra. Tương tự như quy luật màu càng sậm như vàng, tía, đỏ càng có nhiều chất chống oxy hoá, vị càng chát, càng đắng, càng chua độ tập trung của những chất nầy cũng càng nhiều. Ngoài sinh tố A, C, quả ổi còn có quercetin, một chất có tính chống oxy hoá cực mạnh có tác dụng kháng viêm, chống dị ứng trong nhiều chứng viêm nhiễm mãn tính như suyển, dị ứng, tim mạch, thấp khớp, lỡ loét, ung thư.

Một tính chất quan trọng của ổi thường được sử dụng làm thuốc là tác dụng thu liễm, se da, co mạch, làm giảm sự xuất tiết và giảm sự kích thích ở màng ruột. Tác dụng nầy được dùng rộng rải trong nhiều chứng tiêu chảy, thổ tả hoặc kiết lỵ. Trong nhiều trường hợp rối loạn thuộc loại này, điều cơ bản là chống mất nước, giữ ấm người, bảo vệ khí hóa của Tỳ Vị. Búp ổi, lá ổi là một vị thuốc đáp ứng rất tốt cho yêu cầu se da, giảm xuất tiết và cả giảm kích thích để làm dịu các triệu chứng cấp. Uống thêm nước cháo gạo lức rang có thêm vài lát gừng nướng và một chút muối vừa bảo đảm yêu cầu bổ sung nước, vừa giữ ấm trung tiêu và kích thích tiêu hoá là những biện pháp đơn giản, ở trong tầm tay, nhưng có thể giải quyết được hầu hết các trường hợp.

Kinh nghiệm dân gian nhiều nơi đã dùng lá ổi giã nát hoặc nước sắc lá ổi để làm thuốc sát trùng, chống nấm, chữa các trường hợp lở loét lâu lành, làm giảm sốt, chữa đau răng, chữa ho, viêm họng. Nghiên cứu của Trần thanh Lương và các cộng sự[iv] cho biết tác dụng chống nhiễm khuẩn và nhiễm nấm là do 2 hoạt chất Beta-caryophyllene và Alpha-caryophyllene. Ở Ấn Độ, người ta còn dùng nước sắc lá ổi để chữa viêm thận, động kinh. Có thể thấy hiệu quả chữa bệnh ở đây là do tác dụng tổng hợp của 3 yếu tố (1) thu liễm (2) sát trùng (3) kháng viêm.

Theo y học cổ truyền, quả ổi có tính mát, vị ngọt, chua, hơi chát, không độc, có tác dụng sáp trường, chỉ tả, thường dùng để sát trùng, rửa vết thương, trị tiêu chảy.

Sau đây là một số cách sử dụng ổi phổ biến.
Chữa vết thương do chấn thương hoặc trùng, thú cắn.

Búp ổi non nhai nát, đấp vào vết thương.

Chữa vết loét lâu lành ở chân, tay.

Búp ổi, lá ổi non khoảng 100g, sắc đặc, ngâm tay hoặc chân bị loét vào nước sắc lúc thuốc còn ấm. Mỗi ngày ngâm khoảng 2 hoặc 3 lần.

Chữa đau răng hoặc vết lở ở miệng.

Có thể dùng một trong 3 cách

– Nhai hoặc giã nát búp ổi non xát nhẹ vào nướu hoặc vào chỗ lở.

– Thêm một chút nước ấm và một tí muối vào khoảng 7 búp ổi non. Giã nát. Dùng một que tăm có bông gòn ở đầu thấm vào nước thuốc đã giã ra để lăn hoặc chà nhẹ vào nướu hoặc chổ lở.

– Lá ổi non khoảng 100g, sắc đặc. Dùng nước sắc để súc miệng và ngậm vài phút trước khi nhả ra.

Chữa ho, sốt, viêm họng.

Lá ổi non 20g đến 40g phơi khô, sắc uống.

Chữa tiêu chảy cấp.

Búp ổi 20g, Vỏ măng cụt 20g, Gừng nướng 10g, Gạo rang 20g Sắc uống.

Bách chiến tán chống dịch tiêu chảy cấp.

Bách chiến tán là phương thuốc của Lương Y Lê Minh Xuân[v] để chữa những trường hợp tiêu chảy hoặc thổ tả do Tỳ Vị hư yếu gặp phải phong độc hoặc ăn phải thức ăn bị nhiễm khuẩn.

Búp ổi 200g, Vỏ cây sung 500g, Vỏ quít 20g, Gừng già 100g, Hạt cau già 10g, Nhục đậu khấu 150g. Các vị thuốc xắt nhỏ, phơi khô, tán bột, phân vào những gói nhỏ, mỗi gói 6g. Người lớn dùng mỗi ngày 3 lần, mỗi lần một gói.

Chữa tiểu đường loại 2.

Phần vỏ của quả ổi có nhiều chất xơ, sinh tố C và những chất chống oxy hoá có tác dụng kháng viêm và ổn định đường huyết rất tốt cho các bệnh nhân bệnh tiểu đường loại 2. Không ăn phần ruột có nhiều hạt và chỉ số đường cao. Liều dùng trung bình 150g mỗi ngày. Người già có thể xắt nhỏ, xay và ép lấy nước uống. Tuy nhiên, nước ép sẽ mất bớt đi sinh tố và chất xơ.

Chữa băng huyết.

Quả ổi sao khô, đốt tồn tính, tán bột. Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần khoảng 8g.

Lưu ý. Không dùng ổi cho những người đang bị táo bón. Ruột ổi có thể làm nhuận trường nhưng chất chát trong lá ổi và vỏ ổi có thể gây táo bón.

——————————————————————————–

[i] Guava, Nutrients and dietary and antioxidants value. http://en.wikipedia

[ii] Phạm Hoàng Hộ. Cây có vị thuốc ở Việt Nam. NXB Trẻ. 2006. Tr. 262.

[iii] Antioxidants. http://tuberose.com/antioxidants.html.

[iv] Investigation of chemical composition and biological activities of essential oil from psidium guyjava L. http://nimm.org.vn.

[v] Lê Minh Xuân. 53 bài thuốc Đông y. NXB Y Học. 1977. Tr.33.

Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)

Chữa bệnh zona (thường được gọi là giời leo):

Lấy 100g búp ổi non rửa sạch, phèn chua 10g, muối 1g. Cho tất cả vào cối sạch giã nhỏ, thêm ít nước sạch vào trộn đều. Dùng nước thuốc này bôi lên chỗ đau.

Chữa viêm dạ dày – ruột cấp tính:

Lá ổi non 30g, cắt nhỏ, sao chung với một nắm gạo, sau đó cho 500ml nước vào, sắc còn 200ml, lọc lấy nước chia làm hai lần uống trong ngày vào lúc bụng đói.

Chữa tiêu chảy:

Dùng búp ổi hoặc lá ổi non 12 – 20g (sao sơ), gừng nướng 10g hoặc củ riềng khô 10 – 12g, vỏ quýt khô 10 – 12g. Cho các vị vào ấm, sắc với 500ml nước, còn lấy 200ml, chia làm hai lần uống trong ngày trước bữa ăn. Có thể thêm đường cho dễ uống. Bài thuốc này dùng chữa các trường hợp tiêu chảy thông thường, nhất là tiêu chảy do lạnh kết quả rất tốt.

Posted on

Cây chó đẻ

CÂY CHÓ ĐẺ RĂNG CƯA

Herba Phylanthi

Tên khác: Diệp hạ châu (叶下珠).

Tên khoa học: Phyllanthus urinaria L., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Mô tả: Cây thảo sống hàng năm hoặc sống dai. Thân cứng màu hồng, lá thuôn hay hình bầu dục ngược, cuống rất ngắn. Lá kèm hình tam giác nhọn. Cụm hoa đực mọc ở nách gần phía ngọn, hoa có cuống rất ngắn hoặc không có, đài 6 hình bầu dục ngược, đĩa mật có 6 tuyến, nhị 3 chỉ nhị rất ngắn, dính nhau ở gốc. Hoa cái mọc đơn độc ở phía dưới các cành, dài 6 hình bầu dục mũi mác, đĩa mật hình vòng phân thùy, các vòi nhụy rất ngắn xẻ đôi thành 2 nhánh uốn cong, bầu hình trứng. Quả nang không có cuống, hạt hình 3 cạnh.Cây mọc hoang ở khắp nơi, trong nước cũng như ở các nơi trong các vùng nhiệt đới.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Phylanthi).

Phân bố: Cây mọc hoang khắp nơi ở nước ta.

Thu hái: vào mùa hè, rửa sạch phơi nắng gần khô, đem phơi trong râm rồi cất dùng.

Tác dụng dược lý:

Điều trị viêm gan:

Tại Việt Nam, khá nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng điều trị viêm gan của Diệp hạ châu đã được tiến hành, chẳng hạn: nhóm nghiên cứu của Lê Võ Định Tường (Học Viện Quân Y – 1990 – 1996) đã thành công với chế phẩm Hepamarin từ Phyllanthus amarus; nhóm nghiên cứu của Trần Danh Việt, Nguyễn Thượng Dong (Viện Dược Liệu) với bột Phyllanthin (2001).

Tác dụng trên hệ thống miễn dịch:

Vào năm 1992, các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã khám phá tác dụng ức chế sự phát triển HIV-1 của cao lỏng Phyllanthus niruri thông qua sự kìm hãm quá trình nhân lên của virus HIV. Năm 1996, Viện nghiên cứu Dược học Bristol Myezs Squibb cũng đã chiết xuất từ Diệp hạ châu được một hoạt chất có tác dụng này và đặt tên là “Nuruside”.

Tác dụng giải độc:

Người Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc dùng Diệp hạ châu để trị các chứng mụn nhọt, lở loét, đinh râu, rắn cắn, giun. Nhân dân Java, Ấn Độ dùng để chữa bệnh lậu. Theo kinh nghiệm dân gian Malaysia, Diệp hạ châu có thể dùng để trị các chứng viêm da, viêm đường tiết niệu, giang mai, viêm âm đạo,… Công trình nghiên cứu tại Viện Dược liệu – Việt Nam (1987 – 2000) cho thấy khi dùng liều 10 – 50g/kg, Diệp hạ châu có tác dụng chống viêm cấp trên chuột thí nghiệm.

Điều trị các bệnh đường tiêu hóa:

Cây thuốc có khả năng kích thích ăn ngon, kích thích trung tiện. Người Ấn Độ dùng để chữa các bệnh viêm gan, vàng da, kiết lỵ, táo bón, thương hàn, viêm đại tràng. Nhân dân vùng Haiti, Java dùng cây thuốc này trị chứng đau dạ dày, rối loạn tiêu hóa,..

Bệnh đường hô hấp:

Người Ấn Độ sử dụng Diệp hạ châu để trị ho, viêm phế quản, hen phế quản, lao,. ..

Tác dụng giảm đau:

Kenneth Jones và các nhà nghiên cứu Brazil đã khám phá tác dụng giảm đau mạnh và bền vững của một vài loại Phyllanthus, trong đó có cây Diệp hạ châu – Phyllanthus niruri. Tác dụng giảm đau của Diệp hạ châu mạnh hơn indomethacin gấp 4 lần và mạnh hơn 3 lần so với morphin. Tác dụng này được chứng minh là do sự hiện diện của acid gallic, ester ethyl và hỗn hợp steroid (beta sitosterol và stigmasterol) có trong Diệp hạ châu.

Tác dụng lợi tiểu:

Y học cổ truyền một số nước đã sử dụng Diệp hạ châu làm thuốc lợi tiểu, trị phù thũng. Ở Việt Nam, Diệp hạ châu được dùng sớm nhất tại Viện Đông y Hà Nội (1967) trong điều trị xơ gan cổ trướng. Một nghiên cứu của trường Đại học Dược Santa Catarina (Brazil-1984) đã phát hiện một alkaloid của Diệp hạ châu (phyllan thoside) có tác dụng chống co thắt cơ vân và cơ trơn, các nhà khoa học đã nhờ vào điều này để giải thích hiệu quả điều trị sỏi thận, sỏi mật của cây thuốc.

Điều trị tiểu đường:

Tác dụng giảm đường huyết của Diệp hạ châu (Phyllanthus niruri) đã được kết luận vào năm 1995, đường huyết đã giảm một cách đáng kể trên những bệnh nhân tiểu đường khi cho uống thuốc này trong 10 ngày.

Thành phần hoá học: flavonoid, alcaloid phyllanthin và các hợp chất hypophyllanthin, niranthin, phylteralin.

Công năng: Thanh can, minh mục, thấm thấp, lợi tiểu.

Công dụng: trẻ con cam tích, phù thủng do viêm thận, nhiễm trùng đường tiểu, sỏi bàng quang, viêm ruột, tiêu chảy, họng sưng đau.

Cách dùng, liều lượng: Lợi tiểu, chữa phù thũng. Chữa đinh râu, mụn nhọt (giã nát với muối để đắp). Chữa viêm gan virut B. Ngày uống 20-40g cây tươi, có thể sao khô, sắc đặc để uống. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Bài thuốc:

+ Chữa suy gan do nghiện rượu, ứ mật: Diệp hạ châu : 10g, Cam thảo đất : 20g Cách dùng : Sắc uống thay nước hàng ngày.

+ Chữa viêm gan do virus B: Diệp hạ châu đắng: 100g Nghệ vàng : 5g.

Cách dùng : Sắc nước 3 lần. Lần đầu 3 chén, sắc còn 1 chén. Lần 2 và 3 đổ vào 2 chén nước với 50g đường, sắc còn nửa chén. Chia làm 4 lần, uống trong ngày.

Ghi chú: Cây chó đẻ thân xanh (Diệp hạ châu đắng – Phyllanthus amarus Schum et Thonn.) cũng được dùng với cùng công dụng.

– Chế phẩm Hepaphil lọ 100 viên nang XNDPTƯ 25 chữa viêm gan virut B.

http://www.thuocdongduoc.vn

NGÒ RÍ

Posted on

TRÀ NGÒ RÍ

Thường xuyên uống nước rau mùi sẽ giúp làm hạ cholesterol trong máu. Uống dịch ép từ rau mùi còn giúp bổ sung cho cơ thể một lượng lớn các vitamin như A, C, B1, B2 và chất sắt.
Rau mùi (ngò ta hay ngò rí) có tên khoa học là Coriandrum sativum, thuộc họ hoa tán. Cây thuộc dạng thảo nhỏ mọc hằng năm, cao 20 đến 60 cm hay hơn, nhẵn, thân mảnh, lá bóng màu lục tươi; các lá ở dưới chia thành phiến hình trái xoan, có răng; các lá ở trên chia thành tua rất nhiều. Cụm hoa tán kép. Hoa màu trắng, ít khi màu hồng. Quả hình cầu màu vàng sậm.
Ở VN, rau mùi tươi được dùng để làm gia vị nêm các món súp, điều chế các loại nước xốt, trang trí trên các món ăn cho đẹp vì màu xanh tươi và mùi thơm của lá. Tinh dầu của rau mùi dùng làm hương liệu trong ngành dược.
Theo y học cổ truyền, rau mùi có vị cay, tính ấm, dược tính như sau:
– Bổ tì vị: Lá rau mùi có tác dụng kích thích tiêu hóa và làm thuốc bổ, chống đầy hơi, làm mạnh dạ dày, làm gia tăng sự bài tiết nước tiểu và làm hạ sốt.
– Tác dụng cường dương: Tinh dầu trong rau mùi (lá và hạt) có tác dụng gây hưng phấn tình dục, được dùng chữa trong các trường hợp suy yếu sinh lý.
– Long đờm: Rau mùi giúp tống các chất đờm nhớt ứ đọng trong đường hô hấp gây khó thở và gây rối loạn đường hô hấp.
– Chữa cảm cúm: Hạt rau mùi giúp hạ sốt và chữa cảm lạnh, nhức đầu, sổ mũi, ngạt mũi. Uống dịch ép từ rau mùi còn giúp bổ sung cho cơ thể một lượng lớn các vitamin như A, C, B1, B2 và chất sắt.
– Chữa rối loạn tiêu hóa: 1-2 muỗng dịch nước ép từ rau mùi là thức uống vô cùng hiệu quả để chữa chứng rối loạn tiêu hóa như ăn không tiêu, nôn mửa, kiết lỵ, viêm gan và viêm ruột kết. Nó cũng rất hiệu quả để điều trị bệnh thương hàn.
Rau mùi khô còn chữa tiêu chảy và lỵ cấp tính. Bài thuốc gồm rau mùi khô phối hợp với ớt xanh, xác dừa, gừng và nho đen không hạt sẽ giúp chữa đau bụng do rối loạn tiêu hóa.
– Ngừa bệnh đậu mùa: 1 muỗng dịch lá tươi rau mùi, nghiền trộn chung với 1-2 hạt chuối, uống 1 lần trong ngày, dùng liên tục trong 1 tuần sẽ ngừa được bệnh đậu mùa. Dân gian còn nhỏ dịch ép lá rau mùi vào mắt trong giai đoạn bị bệnh để giúp ngừa các mụt thủy đậu lây lan gây tổn thương mắt.
– Hạ cholesterol trong máu: Thường xuyên uống nước rau mùi sẽ giúp làm hạ cholesterol trong máu. Đun 1 nhúm hạt rau mùi khô trong nước sôi, lọc, để nguội và uống nhiều lần trong ngày còn giúp lợi tiểu vì kích thích sự bài tiết của thận.
– Chữa rong kinh: 6 g hạt rau mùi khô đun với 1/2 lít nước, sắc cho cạn còn phân nửa, có thể cho thêm tí đường cho dễ uống, uống lúc còn nóng. Chỉ sau 3 đến 4 ngày uống thuốc này người bệnh sẽ thấy dễ chịu ngay.
– Chữa viêm kết mạc: Rau mùi tươi, phơi trong mát cho khô, đem sắc lấy nước và rửa mắt trong trường hợp bị viêm kết mạc. Bài thuốc này giúp làm mất cảm giác rát nóng, làm giảm đau và giảm sưng mắt.
– Chữa mụn bọc và mụn trứng cá: 1 muỗng nước ép rau mùi trộn chung 1 nhúm bột nghệ, rửa mặt thật sạch rồi bôi hỗn hợp này lên mặt mỗi tối trước khi đi ngủ. Bài thuốc này còn giúp tươi nhuận da nên dùng tốt cho những người có da khô.
Tinh dầu có nhiều trong lá và hạt rau mùi nên có tính gây kích ứng da. Vì vậy những người tiếp xúc thường xuyên với lá và hạt rau mùi cần chú ý mang găng tay khi tiếp xúc. Hạn chế dùng rau mùi cho các bệnh nhân bị hen phế quản hoặc viêm phổi mãn tính.
Theo DS Lê Kim Phụng
Người lao động

GẠO LỨT RANG

Posted on

TRÀ GẠO LỨT RANG

THANH LỌC GAN BẰNG NƯỚC GẠO LỨC RANG

Nguyễn Đức Trọng

Câu chuyện bắt đầu sau khóa sống chung Sức Khỏe và Tâm Linh với Đức Thầy và Thiền Ca tại Washington DC vào tháng 8, 1997.
Thường lệ, sau khi thiền xong chúng tôi ngồi sinh hoạt và trao đổi kinh nghiệm tu học. Nhưng lần này chúng tôi có nhiều chuyện để nói hơn vì nhóm chúng tôi có 3 người tham dự Thiền Ca vừa trở về. Đó là anh Cúc, anh Lâm và chị Trúc.
Anh Lâm có đưa ra mẫu phân tích máu của anh và của anh Cúc do bà bác sĩ Renée Wellhouse chụp lại. Ai cũng ngạc nhiên khi thấy máu của anh Cúc quá sạch so với của anh Lâm. Và như anh Lâm cho biết chỉ có máu của anh Cúc và anh Du (bạn đạo Florida) là sạch nhất trong số những bạn đạo tham dự khóa sống chung tức là hồng huyết cầu rất tròn và huyết thanh rất trong. Tất cả đều quay ra phỏng vấn anh Cúc đã ăn uống và thanh lọc ra sao mà hay vậy, bởi vì hai anh cùng ăn chay như nhau, thanh lọc từ nước chanh qua đến Tsiao-He cùng thời gian như nhau, vậy mà máu của anh Cúc sạch bong, trong khi những hồng huyết cầu của anh Lâm thì méo mó và đầy rẫy những độc tố và ký sinh trùng (parasites). Ngoài ra, sắc mặt của anh Cúc và chị Cúc cũng tươi sáng hơn xưa nhiều.
Anh Cúc bèn thanh minh là anh chẳng có làm gì khác hơn so với các bạn đạo trong vùng, từ ăn chay, thiền, thanh lọc, và tập thể dục. Có chăng là anh thêm phần uống nước gạo lức rang mà anh đã bắt chước từ bác Thoa (một bạn đạo). Trước khi đến với nhóm thiền tại Portland, Oregon hơn 10 năm về trước, bác Thoa đã bị mổ lấy mật túi mật vì mật bị sạn quá nhiều. Thêm nữa, bác sĩ cho biết một số lớn sạn đã tràn sang gan, mặc dù họ đã cố gắng gắp ra phần lớn nhưng vẫn còn trong gan khá nhiều. Bác sĩ cũng cho biết là gan bác đã bị chai, và y khoa hiện tại không có thuốc chữa bệnh gan nên bác sĩ cũng bó tay. Họ chỉ cho bác uống thuốc cầm chừng để thay thế lá mật đã cắt đi và thuốc bổ gan. Người của bác càng lúc càng sụt đi, da và mắt thì cứ vàng như nghệ. Cả nhà đều buồn! Bác tuyệt vọng. May có người nhà ở Việt Nam chỉ cho bác uống nước gạo lức rang với công dụng giúp gan giải trừ độc tố và giúp cơ thể tươi nhuận hơn. Bệnh của bác đã liệt vào hạng “Thầy chạy”, thôi thì ai chỉ gì cũng thử, vả lại cũng chẳng hao tốn gì. Bác uống liền tù ti trong 3 năm dùng nước gạo lức thay thế thức uống cho trà, cà phê, nước ngọt…
Như một phép lạ! Da và mắt của bác không còn vàng nữa, trong người không còn cảm giác uể oải và bực bội. Nước da của bác trở nên hồng hào và tươi sáng hơn bao giờ hết. Đi khám bác sĩ lại, từ bác sĩ cho đến y tá, ai nấy đều ngạc nhiên. Con người của bác như đã tái sinh. Họ xúm nhau đến hỏi xem bác đã uống gì mà hay vậy. Bác cũng chỉ nói nhờ bác gái chăm lo mà được như vậy. Thế là bác gái được thiên hạ xúm vào ca tụng. Và từ đó, nếu có dịp và nghĩ là có thể giúp đỡ được ai là bác đều kể lại câu chuyện này.
Anh Cúc nghe bác kể liền áp dụng được hơn 3 tháng trước ngày đi dự khóa Sống Chung tại Washington DC, nên gan được thanh lọc rất sạch tốt. Mọi người nghe xong đều ngã ngửa vì không ngờ nước gạo lức rang lại có hiệu quả đến thế. Nửa tin, nửa ngờ, vì cũng mới như ngày nào bắt gặp pháp thiền Vô Vi. Giống như ra đường bảo thiên hạ bỏ ra $1.00, sáu tháng sau lấy lại $100.00. Thôi thì một liều ba bảy cũng liều, chúng tôi chạy ra chợ mua gạo lức về rang và dùng nồi slow cooker để nấu. Sáng, trưa, chiều, tối đều dùng nước gạo lức và càng uống, càng mê.
Công thức:
– 1 muỗng canh gạo rang cho một lít nước
Cách rang: Nếu không có thì giờ rang bằng chảo trên bếp, bạn có thể dùng máy rang bắp (pop corn), rang 5 phút là được. Nhưng chỉ xài được cho gạo lức tròn. (nếu gạo lức dài, phải rang bằng chảo).
Cách nấu: Cách nấu tiện và sạch nhất là dùng nồi slow cooker, để low level. Bạn có thể nấu từ sáng đến tối hoặc nấu qua đêm. Nếu bạn nấu nồi trên bếp thì nước gạo không trong (như nước cơm)
Có lẽ, mấy anh chị cũng thắc mắc về kết quả của một số bạn đạo trong vùng Portland, sau 6 tháng uống thử:
Bác Thoa: Dù đã 70 tuổi và không còn mật, trông bác vẫn trẻ, da mặt hồng hào và sáng láng. So với nhiều người vào tuổi 40, bác còn hơn xa, làm việc cả ngày không thấy mệt.
Anh Cúc: Nhờ uống nước gạo lức, cộng thêm phương pháp thể dục của Đức Thầy đã chỉ dẫn, nước da anh bóng và hồng hơn trước. Anh đã ăn được rau sống, không còn bị đau bụng như nhiều năm qua, bớt nhức mỏi mỗi khi trời trở lạnh. Chỉ có một điêù làm phiền cho anh là anh đã phải thay một loạt quần áo mới vì những quần áo cũ đã trở nên rộng và không còn vừa nữa. Đi shopping bây giờ là một cực hình cho anh..
Anh Lâm: Ngoài việc uống nước gạo rang, anh còn dùng thêm thuốc thanh lọc parasites của Awareness. Hiện tại, anh không còn đau khổ vì bịnh táo bón kinh niên từ nhiều năm qua. Cộng thêm nước da tươi mát, anh cho biết mồ hôi không còn hôi nữa. Miệng cũng không còn hôi (thiên hạ khỏi cần né mỗi khi đứng trước mặt anh nói chuyện). Có lẽ, nhờ thanh lọc, uống nước gạo lức rang, thiền và tập thể dục đều, anh không còn bị nhức vai, mỏi xương sống mỗi khi làm việc nặng. Thế là từ nay, anh không còn viện cớ đau lưng để trốn việc mỗi khi bị vợ nhờ cuốc đất làm vườn.
Bích Loan: Mỗi khi mùa đông đến là mỗi lần sợ hãi, cô này những khi trời lạnh thì cổ và vai trở nên cứng ngắt, không cục cựa chi được. Mỗi lần như vậy thì phải ngâm mình vào hồ nước nóng, hoặc phải xoa dầu nóng khắp cổ và lưng thì mới nhúc nhích được. Hai năm gần đây, chứng đau nhức lan xuống đến bàn tay, những khớp ngón tay sưng lên và vài ngón bị lệch hẳn qua một bên, mỗi tối phải dùng dầu nóng mà xoa bóp và dán Salongpas hoặc thuốc cao. Tôi khuyến khích dùng nước trà hàng ngày gần 6 tháng nay, và cũng lạ là những tay không còn bị sưng, cổ bớt tê cứng so với những năm trước. Cái hot tub trong nhà không cần phải chạy vào mùa đông năm nay. Mỗi tối, Bích Loan không còn ngồi mà xoa với bóp dầu nóng.
Tổng kết kinh nghiệm do các bạn đã dùng nước gạo lức rang:
– Sau 1 tháng, bạn sẽ thấy nước da bạn sáng nhuận, không còn khô nhám. Các chị nhiều khi không cần phải xài kem dưỡng da vì da đã trở nên láng tự nhiên, thấy tốt rất thích.
– Trong người khỏe không còn mệt mỏi, uể oải. Nửa đêm hay buổi sáng sớm thức dậy rất tỉnh táo, thiền lâu tốt.
– Uống nước gạo lức khoảng 3, 4 tuần bạn sẽ thấy trong người nóng, lở miệng… bạn đừng sợ, cứ tiếp tục vài ngày là hết. Sau đó, cơ thể tự điều hòa trở lại bình thường và bạn không còn bị nóng nữa.
– Những người lớn tuổi không còn bị đi tiểu đêm, dù uống một ngày 5, 6 ly nước gạo lức.
– Mọi người đều cảm thấy thân thể ấm áp không còn bị cảm giác ớn lạnh khi ra ngoài dù trời mùa đông tuyết giá và nhiệt độ xuống thấp
Như Thầy vẫn thường lo lắng cho chúng ta về cả hai mặt sức khỏe và tâm linh. Khi bạn có sức khỏe tốt, thân thể khỏe mạnh, bạn sẽ làm việc hăng say, vui vẻ hơn và tâm linh tiến hóa thanh nhẹ hơn, thực hành trọn lành đời đạo song tu.
Đọc đến đây, bạn còn chờ gì nữa mà không chạy ra tiệm mua ngay nồi slow cooker và mươi ký gaọ lức tròn về rang, nấu mà uống thử đi chứ.
Chỉ cần rang gạo đến nâu đậm là được. Uống đậm hay lạt là tùy quý bạn (xin xem phần công thức trên). Ngoài ra, vì thích uống nóng, tôi thường cho vào bình thủy mỗi sáng để đem đi làm uống dần trong ngày. Mùa đông hay hè đều uống được.
Các bạn có thể tìm hiểu thêm bằng cách liên lạc về TĐ Lưu động Portland: Trọng (503) 255-9869 hoặc (503) 823-6927 (sở), hoặc Email : tnguyen@ci.portland.or.us .
Kể ra câu chuyện trên, tôi hy vọng giúp các bạn có cơ hội tự chữa bịnh cho mình và với kết quả tốt của bạn, bạn sẽ giúp cho những người chung quanh bạn để họ cũng có một sức khỏe tốt. Vì mỗi người chúng ta trên 40 tuổi thì hầu như ai cũng có vấn đề về gan (yếu gan, chai gan, sơ gan…). Cho nên, vấn đề thanh lọc gan rất là cần thiết.
Nguyễn đức Trọng
——-
Phụ Chú :
1) Nên dùng gạo lức hạt tròn (brown rice, short grain), có thể mua tại Winco, hoặc healthfood store .
2) Không nên rửa gạo lức trước khi rang, vì nếu làm như vậy sẽ làm cho người nóng hơn bình thường. Cơ thể mát là tốt nhất.
3) Dùng chảo mà rang trên lò, ở độ nóng Medium Low. Khi rang nhớ dùng đũa khuấy nhẹ và đều, vì nếu để yên một chỗ khá lâu hạt gạo sẽ bị cháy, hoặc nở bung ra. Tôi thông thường rang một lần từ 3 đến 4 pounds để xaì dần, và mất khoảng 75 đến 90 phút. Nhớ mở cửa sổ để tránh khói trong nhà. Tôi vừa đọc sách vừa rang gạo nên không bao giờ thấy chán.
4) Nấu 1 muỗng canh (table spoon) gạo lức rang với 1 lít nước trong nồi Slow Cooker, ở độ nóng Low, từ 9 đến 10 tiếng. Bạn có thể nấu vào buổi tối trước khi đi ngủ, và như vậy đến sáng trước khi đi làm có thể cho vào bình thủy mang theo. Hoặc nấu buổi sáng và đến chiều tối thì xong.
5) Nên uống nước gạo lức rang ở độ nóng thích hợp với mình từ 2 đến 3 ly một ngày . Nước gạo lức rang không nên để lâu trong nồi quá 1 ngày, vì sẽ làm nước bị đục và có thể bị thiu . Vậy nếu dùng không hết, hoặc không có bình thủy, nên sớt ra, để nguội và cất trong tủ lạnh. Trước khi uống chỉ việc hâm nóng là được.
6) Xác gạo lức khi nấu xong không nên bỏ, vì có thể ăn như cháo và làm nhẹ bụng. Người mới bệnh dậy, hoặc đầy bụng, hoặc chán không biết ăn gì (vì quá thừa thải), cứ ăn vài ngày để giúp bao tử làm việc nhẹ nhàng, sẽ tạo sự thèm và thích ăn.
7) Việc chữa bệnh hay gìn giữ sức khỏe tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Nước gạo lức rang chỉ là một phần mà thôi . Việc tập thể dục hàng ngày (hoặc đi bộ) từ 30 đến 60 phút, uống nhiều nước (7 đến 8 ly một ngày), đã giúp cho sức khỏe quí vị đến 60% rồi . Phụ vào đó tinh thần yêu đời, yêu người, mong mỏi giúp đỡ những người chung quanh, ăn uống với nhiều rau cỏ và ngũ cốc thay vì thịt và dầu mỡ, quí vị sẽ chẳng còn lo chi nữa .
Dành thời giờ cho việc cầu nguyện, tu bổ và sửa chữa bản thân mình. Thay vì phung phí vào những tranh chấp, nói chuyện thị phi, chẳng đi đến đâu mà còn phí sức nữa .
9) Định luật “Sanh, Lão, Bệnh, Tử” không ai có thể tránh khỏi . Bình tâm chấp thuận mọi chuyện, và đấy chính là niềm an lạc của mình.
Sưu Tầm By ChinhBK

Lá dứa

Posted on

Đây là loại lá có mùi thơm mà bà con ở nông thôn thường dùng để pha trà, làm bánh hoặc bỏ vào trong xôi cho thơm. Trong lá dứa có nhiều tinh dầu và chứa glycosides, alkaloid nên có rất nhiều công dụng trong y học, được dùng rộng rãi và cách sử dụng rất đơn giản.

– Yếu dây thần kinh: Dùng 3 lá dứa rửa sạch và cắt nhỏ. Nấu với 3 ly nước cho đến khi còn lại cỡ 2 chén. Uống một chén vào buổi sáng và một chén vào buổi trưa.

– Bệnh thấp khớp: Đun nóng khoảng nửa chén dầu dừa ở lửa nhỏ. Khi dầu dừa nóng thì bắc chảo ra khỏi bếp và bỏ khoảng 3 lá dứa (đã rửa sạch và cắt mỏng) vào dầu dừa. Khuấy đều cho đến khi nguội rồi dùng để thoa vào những vùng sưng khớp, đau khớp.

– Trị gàu: Dùng 7 lá dứa rửa sạch rồi đâm nhuyễn. Thêm vào nửa chén nước và khuấy đều, vắt nước cốt và lọc. Dùng nước lọc thoa vào da đầu, để khô, sau một giờ thì thoa vào da đầu thêm một lần nữa. Sau đó gội đầu bằng nước sạch. Làm mỗi ngày như vậy cho đến khi sạch gàu.

– Trị gián: Một đặc điểm rất hay của lá dứa là có thể dùng để đuổi gián. Nếu không muốn dùng các sản phẩm diệt gián thương mại có nhiều hóa chất độc hại, chúng ta dùng lá dứa bằng cách cắt lá dứa thành từng đoạn 5 cm bỏ vào rổ rồi đặt ở nhà bếp hoặc những nơi gián thường lai vãng. Khi lá dứa hết mùi thơm thì thay lá dứa khác.

Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=324384#ixzz1irlEEeu9
http://www.xaluan.com/

TRÀ LÁ DỨA:
Cây lá dứa trị tiểu đường
Một sự tình cờ, TRỜI đã ban cho gia tộc chúng tôi Người em gái thứ 5 lúc về Việt Nam, mang Lá Dứa qua Tây Đức để làm bánh. Nhưng không làm, lại tiếc của, lấy lá Dứa đem phơi khô nhưng còn thấy màu xanh, nấu nước uống cho thơm, nào ngờ đâu đo thử Đường lại quá tốt, tốt chưa từng thấy !
Em Năm báo cho Em Sáu của tôi biết sự việc đã xảy ra như thế.
Em Sáu bắt đầu dùng Lá Dứa và Kết Quả quá tốt . Trước đó phải chích Insulin, bây giờ không cần chích Insulin nữa và có thể ăn cơm nhiều hơn trước.
Được tin tốt ấy, tôi bắt đầu uống Lá Dứa và bỏ thuốc tây . Tôi cũng đạt được kết quả Tuyệt Vời.
Theo sự hướng dẫn của tôi, bà Trần Vũ Bản vừa báo cho tôi là bà uống Lá Dứa cũng đạt kết quả tốt.
Lá Dứa là loại lá có mùi thơm khi bỏ vào cơm hay chè. Lá Dứa mua về rửa sạch đem phơi khô nhưng vẫn còn thấy màu xanh. Mỗi lần nấu chừng 10 lá Dứa, cắt nhỏ ra, với 2.5 lít nước, khi thấy còn lại chừng 2 lít là có thể dùng được. Với 2 lít nước lá Dứa nầy uống hết trong 1 ngày. Uống trước mỗi bữa ăn chừng 20 phút. Nếu 1 ngày ăn 3 lần thì mỗi lần uống 0.7 lít nước lá Dứa. Uống 1 tuần lễ mới bắt đầu có kết quả.
Tất cả 10 anh em trong gia đình chúng tôi uống Lá Dứa đều đạt được kết quả TỐT .
Chúc các bạn có bệnh Tiểu Đường uống lá Dứa có Kết Quả TỐT.
Uống Lá Dứa là quan trọng, NHƯNG kiêng cử trong ăn uống còn quan trọng hơn nhiều.
Một điều quan trọng nữa là Tập Thể Dục. Mỗi ngày nên tập thể dục nhẹ khoảng 30 phút thí dụ như đi bộ hay chạy bộ.
Khi có Kết Quả Tốt, Xin Thông Báo cho tôi rất Cám Ơn .
KT61 Nguyễn Văn Bảnh
259 Westmoreland Ave,
Toronto, Ontario, CANADA
Tel: 416-533-6757
Email: nguyen6757@rogers. com

Cỏ mực

Posted on

TRÀ CỎ MỰC

Cây cỏ mực( sưu tầm bài viết)
Được đăng bởi Mr Liêm on Thứ tư, ngày 07 tháng tư năm 2010
Nhãn: Cây thuốc
By Dược Sĩ Trần Việt Hưng
TRÀ CỎ MỰC
CỎ MỰC
Cây thuốc bổ gan, trị..rắn cắn ?
::: Ds. Trần Việt Hưng :::
Cỏ mực, một cây thuốc Nam rất thông thường mọc hoang hầu như khắp nơi, hiện là một dược liệu đang được nghiên cứu về khả năng bảo vệ gan và trừ được nọc độc của một số loài rắn nguy hiểm.
Tại Ấn độ, Cỏ mực là một trong mười cây hoa bổ ích (Dasapushpam), đã được dùng trong các mỹ phẩm thoa tóc, bôi da từ thời xa xưa.. đồng thời làm nguyên liệu để lấy chất phẩm đen nhuộm tóc.
Tại Java, lá cây được dùng làm thực phẩm..
Cây cỏ mực được ghi trong các sách thực vật và dược liệu Âu-Mỹ dưới tên Eclipta alba , họ thực vật Compositae (Asteriacea). Tên đồng nghĩa là Eclipta prostrata. Sách của J. Duke (Handbook of Medicinal Herbs), Võ văn Chi (Từ điển Cây thuốc Việt Nam) đều ghi là 2 tên chỉ chung một cây, riêng sách của Đỗ tất Lợi lại cho là 2 cây khác nhau (?) : Eclipta alba được cho lá Cò nhọ nồi (Cò mực) còn Eclipta prostrata..lại cho là Cây cúc áo(?)
Đặc tính thực vật :
Cỏ mực, còn gọi là Cỏ nhọ nồi, thuộc loại thân thảo hằng niên, cao trung bình 0.2-0.4 m, có khi đến 0.8 m, mọc bò , hoặc có khi gần như thẳng đứng, có lông trắng cứng, thưa. Thân màu lục hay nâu nhạt hay hơi đỏ tía. Lá mọc đối, phiến lá dài và hẹp cở 2.5 cm x 1.2 cm. Mép lá nguyên hay có răng cưa cạn, hai mặt lá đều có lông. Hoa mầu trắng hợp thành đầu, mọc ở kẽ lá hay đầu cành, có hoa cái bên ngoài và hoa lưỡng tính ở giữa. Quả thuộc loại bế quả cụt đầu, có 3 cạnh màu đen dài chừng 3mm
Cỏ mực trong Dược học dân gian :
Cỏ mực đã được dùng rất phổ biến trong dân gian tại Ấn độ, Pakistan, Việt Nam, Trung Hoa và các Quốc gia vùng Nam Á.
1- Tại Ấn Độ :
Cỏ mực được dùng trị sói đầu, nấm lác đồng tiền, thuốc nhuộm tóc và trị gan, lá lách phù trướng; sưng gan-vàng da và làm thuốc bổ tổng quát. Cây cũng được dùng trị ho, chảy máu miệng, ăn khó tiêu, choáng váng, chữa đau răng, giúp lành vết thương..Rễ dùng gây nôn mửa, xổ. Lá giã nát đắp trị vết cắn do bò cạp.
2- Tại Pakistan :
Eclipta alba, được gọi tại Pakistan là Bhangra, bhringaraja, được dùng trong dân gian dưới nhiều dạng. Cây tươi được dùng làm thuốc bổ chung, giúp giảm sưng gan và lá lách, trị bệnh ngoài da, trị suyễn, khi dùng trị bệnh gan liều nước sắc sử dụng là 1 thìa cà phê hai lần mỗi ngày; cây giã nát, trộn với dầu mè được dùng để đắp vào nơi hạch sưng, trị bệnh ngoài da..Lá dùng trị ho, nhức đầu, hói tóc, gan và lá lách sưng phù, vàng da.
3- Tại Trung Hoa :
Eclipta prostrata , hay Mò hàn lian : Lá được cho là giúp mọc tóc. Toàn cây làm chất chát cầm máu, trị đau mắt, ho ra máu, tiểu ra máu; đau lưng, sưng ruột, sưng gan, vàng da.. Lá tươi được cho là có thể bảo vệ chân và tay nông gia chống lại sưng và nhiễm độc khi làm việc đồng-áng, tác dụng nãy theo Viện Y học Chiang-su là do ở thiophene trong cây.
4- Tại Việt Nam :
Cỏ mực được dùng trị xuất huyết nội tạng như ho ra máu, xuất huyết ruột, chảy máu răng, nướu, lợi ; trị sưng gan, sưng bàng quang, sưng đường tiểu trị mụn nhọt đầu đinh, bó ngoài giúp liền xương. Cách dùng thông thường là dùng khô, sắc uống; khi dùng bên ngoài lá tươi đâm nát đắp nơi vết thương. Thợ nề dùng cỏ mực vò nát để trị phỏng do vôi.
Thành phần hóa học :
Cỏ mực chứa :
– Các glycosides triterpene và Saponins : 6 glycosides loại oleanane : Eclalbasaponins I-VI ( 2 chất mới ly trích được năm 2001 được tạm ghi là XI và XII) , Alpha và Beta-amyrin , Ecliptasaponin D Eclalbatin.
– Các Flavonoids và Isoflavonoids : Lá và đọt lá chứa Apigenin, Luteolin và các glucosides liên hệ. Toàn cây chứa các isoflavonoids như Wedelolactone, Desmethylwedelolactone, Isodemethylwedelolac tone, Strychnolactone
– Aldehyd loại terthienyl : Ecliptal ; L-terthienyl methanol; Wedelic acid.
– Sesquitepne lactone : Columbin.
– Các sterols như Sitosterol, Stigmasterol..
– Các acid hữu cơ như Ursolic acid, Oleanolic acid, Stearic acid, Lacceroic acid ; 3,4-dihydroxy benzoic acid; Protocateuic acid..
Đặc tính dược học :
1. Tác dụng chống sưng-viêm : Trích tinh Eclipta alba, khi thử nghiệm trên các thú vật bị gây sưng phù cấp tính và kinh niên, cho thấy khả năng ức chế sự sưng đến 58.67 % (Journal of Research and Education in Indian Medicine Số 9-1990). Nơi chuột, dung dịch trích bằng nước-alcohol ức chế làm giảm được phản ứng gây ra bởi acid acetic đến 35-55 % khi dùng liều uống 200 mg/kg. Bột lá Eclipta alba dùng liều uống (1500 mg/kg) có tác dụng chống sưng hữu hiệu (ức chế đến 47.7%) so sánh với indomethacin (ức chế được 51%) : Dược thảo có hiệu năng mạnh hơn vào giai đoạn thứ 2 của tiến trình sưng viêm, nên có lẽ hoạt động bằng ức chế sự tạo prostaglandins và kinins (Fitoterapia Số 58-1987)
2. Tác dụng bảo vệ gan : Trích tình Cỏ mực bằng ethanol: nước (1:1) đã được nghiên cứu trong thử nghiệm tác hại nơi gan gây ra bởi tetrachloride Carbon ( thử nơi chuột) ghi nhận trích tinh tão được sự bảo vệ gan bằng cách giúp điều hòa nồng độ của các men có liên hệ đến việc biến dưỡng thuốc nơi ty thể gan. (Journal of Ethnopharmaco logy Số 70-2000) Eclipta alba còn có hoạt tính mạnh hơn khi dùng phối hợp với Cây Chó đẻ (Phyllanthus niruri) và Curcumin (từ Nghệ) theo tỳ lệ 25:15:10 (P.niruni : E. alba : Curcumin). Nồng độ lipid cao trong gan và bilirubin trong huyết thanh sụt giảm và trở về mức bình thường. Hỗn hợp này làm tăng mức độ triglyceride trong máu, tăng tiền chất-beta-lipoproteins và cholesterol. Trích tinh bằng ethanol từ cây E. alba tươi cho thấy một tác dụng bảo vệ gan đáng kể (tùy thuộc vào liều sử dụng) trong các trường hợp hư gan do CCl4 gây ra nơi chuột thử nghiệm, không thấy dấu hiệu ngộ độc dù cho dùng đến 2 gram/ kg ở cả dạng uống lẫn chích qua màng phúc toan (Phytothera py Research Số 7-1993). Thử nghiệm nơi chuột bạch tạng ghi nhận tác dụng bảo vệ gan xẩy ra từ liều 100mg/ kg.
Các hiệu ứng bảo vệ gan của dịch chiết bằng nước đông khô cũng được nghiên cứu trong các trường hợp sưng gan cấp tính gây ra nơi chuột nhắt bằng 1 liều CCl4 hay acetaminophen và nơi chuột nhà bằng beta-D-galactosamin : Kết quả cho thấy có tác dụng ức chế đáng kể trong phản ứng tạo sự tăng transaminase trong máu gây ra bởi CCl4 nơi chuột nhắt và galactosamine nơi chuột nhà, nhưng không có hiệu ứng trong trường hợp hư hại gan do acetaminophen.
3. Tác dụng làm hạ huyết áp : Hổn hợp polypeptides của E. alba có tác dụng hạ huyết áp nơi chó. Columbin, trích từ dịch chiết toàn cây bằng ethanol cho thấy khả năng hạ huyết áp rõ rệt nơi chuột đã bị gây mê.
4. Khả năng trung hòa tác dụng của nọc rắn :
Nghiên cứu tại ĐH Universidade Federal do Rio de Janeiro (Ba tây) (1989) ghi nhận dịch chiết bằng ethanol cúa E.alba có khả năng trung hòa các hoạt tính nguy hại (đến gây chết người) của nọc độc loài rắn chuông Nam Mỹ (Crotalus durissus terrificus). Các mẫu dịch chiết tương đương với 1.8 mg trích tinh khô dùng cho mỗi chuột thử có thể trung hoà được đến 4 liều nọc độc gây tử vong (LD 50 = 0.08 micro gram nọc/ g thú vật : Dịch chiết Eclipta ức chế được sự phóng thích creatinine kinase từ bắp thịt của chuột khi tiếp xúc với nọc rắn thô. (PubMed – PMID : 2799833).
Một nghiên cứu khác, cũng tại Ba tây (1994) , khảo sát các tác dụng chống độc tính của nọc rắn trên bắp thịt và chống chảy máu, của 3 chất trong thành phần Cỏ mực : wedelolactone, WE; stigmasterol, ST và sitosterol, SI. Thử nghiệm dủng nọc độc của các loài rắn lục Bothrops jararacussu, Lachesis muta.., độc tố tinh khiết hóa bothrops toxin, bothropasin và crotoxin..Sự hữu hiệu được đo lường bằng tốc độ phóng thích creatine kinase từ cơ bắp chuột.. Kết quả cho thấy (in vitro) độc tính trên bắp thịt của nọc rắn crotalid và các độc tố tinh khiết đều bị trung hòa bởi WE và dịch trích Cỏ mực (EP), cả WE lẫn EP đều ức chế tác dụng gây chảy máu của nọc Bothrops, ức chế tác dụng của men phospholipase A2 trong crotoxin, và tác dụng ly giải protein của nọc B.jararaca.(PubMed – PMID 8079371)
Cỏ mực trong Đông Y cổ truyền :
Đông Y cổ truyền gọi Cỏ mực là Hạn Liên Thảo (Han Lian Cao), hay Mặc Hạn Liên. (Nhật dược gọi là Kanrensò) Dược liệu là toàn cây thu hái vào đầu mùa thu. Cây mọc hoang tại các vùng Giang Tây, Triết Giang, Quảng Đông.. được cho là có vị ngọt/ chua, tính mát ; tác dụng vào các kinh mạch thuộc Can, Thận.
Han Lian Cao có những tác dụng :
– Dưỡng và Bổ Âm-Can và Âm-Thận: dùng trị các chứng suy Âm Can và Âm Thận với các triệu chứng choáng váng, mắt mờ, chóng mặt, tóc bạc sớm ; thường dùng phối hợp với Nữ trinh tử (Nu zhen zi= Fructus Ligustri lucidi) .
– Lương Huyết và Cầm máu (Chỉ huyết) : trị các chứng Âm suy với các triệu chứng chảy máu do ‘Nhiệt’ tại Huyết như ói ra màu, ho ra màu, chảy máu cam, phân có máu, chảy màu tử cung và tiểu ra máu. Để trị tiểu ra máu cỏ mực được dùng chung với Mả đề (Xa tiền thảo=Che qian cao (Plantaginis) và Rễ cỏ tranh (Bạch mao căn= Bai mao gen (Rhizoma Imperatae); để trị phân có máu, dùng chung với Địa du= di yu (Radix Sanguisorbae); để trị ói ra màu, dùng chung với Trắc bách diệp xấy khô = Ce bai ye (Cacumen Biotae)..
Tài liệu sử dụng :
Major Herbs of Ayurveda (E. Williamson)
Chinese Herbal Medicine Materia Medica (D. Bensky)
Medicinal Plants of China (J Duke & Ed Ayensu)
Medicinal Plants of India and Pakistan ( J.F Dastur)
Oriental Materia Medica (Hong-Yen Hsu)
Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ văn Chi)

%d bloggers like this: