RSS Feed

Artiso

Posted on

TRÀ A TI SÔ
Atisô vừa công vừa thủChủ Nhật, 12/09/2010 00:48
Nếu tìm một loại thuốc có tác dụng kép, vừa công phá bệnh nguyên vừa bảo vệ tế bào trên cùng cơ quan nội tạng thì atisô là thí dụ điển hình
Trước hết là tác dụng lợi mật. Nhờ atisô, mật chẳng những được bài tiết nhiều hơn trong gan mà đồng thời còn thoát xuống túi mật mau hơn bình thường. Chất độc trong gan, nhờ đó, qua túi mật rồi xuống ruột non nên không kịp phá hoại lá gan. Nhờ vậy mà gan hóa giải đủ loại độc tố, từ phụ gia trong thực phẩm công nghệ cho đến hóa chất trong nông nghiệp hay cồn trong rượu, bia.
Người phải làm việc trong môi trường ô nhiễm, kẻ khó từ chối ly rượu vì chuyện làm ăn, vẫn có thể góp phần bảo vệ lá gan nếu biết cách kết hợp atisô thường xuyên trong bữa cơm hằng ngày.
Hơn thế nữa, tình trạng ứ mật trong gan là đòn bẩy cho sỏi túi mật. Đã vậy, mật ứ trong gan nào chịu nằm yên! Dưới tác dụng phân hủy của mật, tế bào gan khó mà giữ nguyên cấu trúc. Viêm gan do ứ mật đúng là điều đáng tiếc khi biện pháp phòng ngừa có khó gì đâu với những chén trà atisô sau bữa cơm nhiều thịt mỡ.
Nhiều người ắt hẳn sẽ để ý nhiều hơn đến atisô khi đi chợ, nếu được thông tin rõ hơn về các nhân tố có thể gây ứ mật như bệnh túi mật, viêm gan, nghiện rượu, bệnh nội tiết (cường tuyến giáp, tiểu đường…), thai kỳ, cũng như do phản ứng phụ của thuốc kháng viêm, giảm đau, trị thấp khớp, ngừa thai, nội tiết tố, an thần, kháng sinh…
Không chỉ có thế, atisô còn là phương tiện hiệu quả để cải thiện tiêu hóa, chống biếng ăn và điều trị đau bụng trong “hội chứng đường ruột quá nhạy cảm”. Người càng căng thẳng vì công việc càng nên nhớ đến atisô, nếu muốn tránh cảnh ngồi không yên. Với người cao tuổi, atisô là vị thuốc nhuận trường lý tưởng vì không chỉ hòa hoãn về tác dụng mà quan trọng hơn nữa là còn an toàn khi dùng lâu dài.
Không dừng lại trên đường tiêu hóa, atisô giúp hạ mỡ trong máu thông qua cơ chế tác dụng kép. Một mặt, atisô ức chế tiến trình tổng hợp cholesterol, mặt khác, atisô thúc đẩy phản ứng phân hủy cholesterol. Kiểm soát đầu vào, đẩy mạnh đầu ra, đâu còn biện pháp nào khéo hơn để chống tình trạng tồn kho?
Thêm một điểm nhiều người hay quên là đừng dùng atisô theo kiểu “xuân thu nhị kỳ” mà phải dùng nhiều ngày liên tục, mỗi ngày ít nhất hai lần, tối thiểu một tuần. Với người muốn phòng bệnh gan, không thể chỉ chọn hoặc công hay thủ mà phải hai mặt giáp công.
Đó là lý do dễ hiểu tại sao atisô có mặt trong y học dân gian trên khắp địa cầu chứ không riêng gì ở Việt Nam ta.
Bác sĩ Lương Lễ Hoàng (Trung tâm Điều trị ôxy cao áp TPHCM)
Thông mật, lợi tiểu, giảm Urê máu, hạ sốt, nhuận trường .
Chủ Trị:
• Cụm hoa được dùng trong chế độ ăn kiêng của người bệnh đái tháo nhạt vì nó chỉ chứa lượng nhỏ tinh bột, phần Carbon Hydrat gồm phần lớn là Inlin.
• Lá Ác ti sô vị đắng, có tác dụng lợi tiểu và được dùng trong điều trị bệnh phù và thấp khớp.
• Lá tươi hoặc khô sắc hoặc nấu thành cao chữa bệnh về Gan (gan viêm mạn, da vàng), thận viêm cấp và mạn, sưng khớp xương. Thuốc có tác dụng nhuận trường và lọc máu nhẹ đối với trẻ em.
• Thân và rễ Ác ti sô thái mỏng, phơi khô, công dụng giống lá.
Actisô được dùng trị bệnh ở Châu Âu từ lâu như vị thuốc làm mát gan, nhuận trường, thông tiểu.
TÌM HIỂU THÊM VỀ ATISO
Tên Khoa Học:
Cynara Scolymus L. Thuộc họ Cúc (Compositae).
– Mô Tả:
Loại cây thấp, cao khoảng 1-2 m, thân và lá có lông trắng như bông. Lá mọc so le, phiến khía sâu, có gai. Cụm hoa hình đầu,mầu tím nhạt. Lá bắc ngoài cuả cụm hoa dầy và nhọn. Phần gốc nạc của lá bắc và đế hoa ăn được. Lá to, dài 1-1,2m, rộng 50cm. Mặt dưới có nhiều lông hơn mặt trên. Cây được di thực và trồng nhiều ở Đà lạt, Sa pa, Tam đảo.
Thu hái chế biến
Gieo hạt tháng 10-11, bứng ra trồng tháng 1-2. Lúc cây sắp ra hoa, hái lấy lá, bẻ sống.
Lá Ác ti sô thu hái vào năm thứ nhất của thời kỳ sinh trưởng hoặc vào cuối mùa hoa. Khi cây trổ hoa thì hàm lượng hoạt chất giảm, vì vậy, thường hái lá trước khi cây ra hoa.Có tài liệu nêu là nên thu hái lá còn non vào lúc cây chưa ra hoa. Ở Đà Lạt, nhân dân thu hái lá vào thời kỳ trước tết Âm lịch 1 tháng.
Bào Chế:
Sấy hoặc phơi khô.
Để nơi khô ráo.
Thành Phần Hóa Học:
Trước đây người ta cho rằng hoạt chất là Cynarrin. Nhũngx nghiên cứu gần đây chứng minh rằng có nhiều hoạt chất khác nhau chứ không riêng gì Cynarrin (Ernst E. Naturamed 1995).
Trong Ác ti sô chứa 1 chất đắng có phản ứng Acid gọi là Cynarin (Acid 1 – 4 Dicafein Quinic). Còn có Inulin, Tanin, các muối kim loại K (tỉ lệ rất cao), Ca, Mg, Natri.
Lá Ác ti sô chứa:
1.Acid hữu cơ bao gồm:
• Acid Phenol: Cynarin (acid 1 – 3 Dicafeyl Quinic) và các sản phẩm của sự thủy phân (Acid Cafeic, acid Clorogenic, acid Neoclorogenic).
• Acid Alcol.
• Acid Succinic.
2.Hợp chất Flavonoid (dẫn chất của Luteolin), bao gồm:
Cynarozid ( Luteolin – 7 – D Glucpyranozid), Scolymozid
(Luteolin – 7 – Rutinozid – 3’ – Glucozid).
3. Thành phần khác: Cynaopicrin là chất có vị đắng, thuộc nhóm Guaianolid.
Dược điển Rumani VIII qui định dược liệu phải chứa trên 1% Polyphenol toàn phần và 0,2% hợp chất Flavonoid.
Theo R.Paris, hoạt chất (Polyphenol) tập trung ở lá, có nhiều nhất ở phiến lá (7,2%) rồi đến ho (3,48%), đến cụm hoa, rễ, cuống lá.
Lá chứa nhiều hoạt chất nhất: 1,23% Polyphenol, Clorogenic acid 4%, hợp chất Flavonoid (đặc biệt là Rutin), sau đó đến thân (0,75%), rễ (0,54%). Dẫn chất Caffeic như Clonogenic acid, Neoclorogenic acid, Cyptoclorogenic acid, Cynarin. Sesquiterpen lacton: Cynarpicrin, Dehydrocynaropicrin, Grossheimin, Cynatriol.
Hoạt chất trong phiến lá cao gấp 10 lần trong cuống lá.
Lá non chứa nhiều hoạt chất (0,84%) hơn lá mọc thành hình hoa thị ở mặt đất (0,38). Nếu sấy ở nhiệt độ cao thì lá mau khô nhưng lại mau mất hoạt chất. Ở nhiệt độ thấp, việc làm khô sẽ lâu hơn. Lá cần được ổn định trước rồi mới chuyển thành dạng bào chế. Ngọn có hoa chứa Inulin, Protein (3,6%), dầu béo (0,1%), Carbon Hydrat (16%), chất vô cơ (1,8%0, Ca (0,12%), P (0,10%), Fe (2,3mg/100g), Caroten (60 Unit/100g tính ra Vitamin A).
Thân và lá còn chứa muối hữu cơ của các kim loại K, Ca, Mg, Na. Hàm lượng Kali rất cao.
Rễ: hầu như không có dẫn chất của Cafeic acid, bao gồm cả Clorogenic acid và Sesquiterpen lacton. Rễ chỉ đều thông tiểu chứ không có tác dụng tăng tiết mật (Herbal Medicine 1999).

About trasuasonlu

Nếu 1 ngày nào đó tôi có thể sống trong 1 túp lều tranh, mang đôi dép cỏ, ăn rau cỏ, và chỉ nên mặc lá chuối thôi, có nghĩa là tôi càng ít vay mượn những vật từ bên ngoài, thì tôi càng mạnh mẽ.

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: